Bệnh thận mạn và một số dấu hiệu của bệnh

0
22 views

Suy thận mãn tính hay còn được gọi là bệnh thận mạn, là tình hình thận bị suy giảm vận động, không đảm bảo những nhiệm vụ chính gây nên những ảnh hưởng đến từ đầu đến chân. Đây là trường hợp xẩy ra dần dần, kéo dài trong suốt thời gian và có khả năng lặp đi lặp lại nhiều đợt. Theo thống kê gần nhất thì ở việt nam Ngày nay đang có hơn 6 triệu người bị mắc cần, thực tế thì con số này có khả năng hơn & vẫn đang tăng thêm

Định nghĩa bệnh thận mạn

Thận của chúng ta là bộ phận sống giúp điều hoà huyết áp & tạo nên hormone để sinh ra ra các cấu trúc tế bào máu đỏ. Quan trọng hơn, thận có công dụng thẩm bóc tách và thanh lọc chất bẩn khỏi máu, tiếp đến chất bẩn được bồi tiết ra khỏi cơ thể qua đường nước tiểu. Lúc thận bị hư hỏng, Tức là chúng không thể lọc chất bẩn ra khỏi cơ thể hiệu quả theo chuẩn công dụng của chúng. Đây chính là bệnh thận mạn tính. Bệnh thận mãn là các bước công dụng của thận bị giảm bớt dẫn đến suy thận.

Bệnh thận mạn
Bệnh thận mạn

lý do tạo nên bệnh thận mạn là gì?

Tuy nhiên, hai phần ba bệnh nhân thận mãn là bởi vì tiểu đường và cao huyết áp. Các nguyên do khác ảnh hưởng đến thận thông thường là do tắc nghẽn bởi viêm sỏi thận, u bướu, sự phình lên của tuyến tiền liệt. Chứng viêm sưng, sưng thận, viêm mạch, viêm đường tiết niệu, các bệnh di truyền như bệnh thận đa nang hai bên, bệnh luput và những tình trạng bệnh khác tác động đến hệ miễn dịch của cơ thể.

các biến tướng thường gặp trong bệnh thận mạn

Biến chứng hệ tim mạch

Tăng huyết áp:

khi suy thận tiến triển, thường xuyên có huyết áp cao do ứ muối và nước. Tình trạng tăng renin máu và việc sử dụng erythropoietin ngoại sinh cũng góp phần gây tăng huyết áp. Huyết áp cao là biến đổi thông dụng nhất trong suy thận giai đoạn cuối & cần được điều trị cẩn thận, còn nếu như không, suy thận sẽ càng quá trình phát triển nhanh gọn hơn.

khám chữa tăng huyết áp trong suy thận có thể thắng lợi bằng phương pháp hạn chế muối & nước, giảm cân nếu cần, phối hợp với sử dụng thuốc. Khi suy thận nặng hơn, khả năng điều chỉnh cân bằng và điều độ nước và muối càng giảm đi, do vậy dùng nhiều muối có khả năng dẫn đến suy tim sung huyết, phù và cao huyết áp, nhưng nếu dùng rất hiếm muối sẽ khiến giảm trọng lượng máu & hạ huyết áp. Có thể mở màn bằng hạn chế muối vừa cần, khoảng 4 – 6 g/ ngày, nhưng nếu huyết áp vẫn cao, có khả năng giảm lượng muối ăn vào xu ống dẫn đến 2g/ ngày. Thuốc sử dụng bước đầu có khả năng là các thuốc tức chế men chuyển hoặc losartan (nếu kali máu và mức lọc cầu thận còn cho phép), những thuốc chẹn kênh calci, các thuốc lợi tiểu & các thuốc chẹn bêta. Các thuốc bổ trợ khác như clonidin, hydralazin, minoxidil thông thường là cần thiết và cũng minh chứng sự gian nan trong việc cách xử lý huyết áp cao ở những bệnh nhân này.

Viêm màng ngoài tim:

khi nồng độ nitơ urê máu (BUN) vượt quá 100 mg% (1g/L), sẽ xuất hiện viêm màng ngoài tim, mà lý do có khả năng là bởi ứ đọng hàm lượng độc do chuyển hóa. Triệu chứng thường là đau ngực Bị sốt & đôi khi có mạch nghịch đảo. Có khả năng nghe được tiếng cọ màng ngoài tim, các lúc ko nghe tiếng cọ có thể là bởi tràn dịch đã nhiều. X quang ngực có thể thấy diện tim to và điện tâm đồ cho Hình ảnh đặc thù. Có khả năng gặp chèn ép tim với dấu hiệu giảm cung lượng tim & tĩnh mạch máu cổ nổi. Viêm màng ngoài tim là một không sử dụng tuyệt đối cho lọc máu ngoài thận.

Suy tim sung huyết:

những người mắc bệnh suy thận mức độ cuối thường xuyên có xu hướng tăng cung lượng tim do ứ dịch ngoại bào, luồng thông trái – cần qua cầu nối chạy thận nhân tạo & do không cung cấp đủ máu. Cùng với huyết áp tăng, hiện tượng ứ dịch, luồng thông & không đủ máu này sẽ mang đến tăng thêm sự hoạt động của cơ tim và tăng nhu cầu O­2. Bệnh nhân suy thận cũng còn bị xơ vữa động mạch nhanh chóng. Tất cả những biểu hiện phía trên làm phì đại thất trái và giãn buồng tim. Mặt khác, các chứng cớ bắt gặp gần đây cho biết hormon cận giáp cũng có thể có tầm quan trọng gây bệnh cơ tim ở những người có bệnh suy thận.

cần khống chế chặt chẽ lượng muối & nước vào cơ thể ở những những người có bệnh có vô niệu hoặc thiểu niệu. Những thuốc lợi niệu đều hiệu quả. Song, lúc mức lọc cầu thận giảm < 10 – 15 ml/phút thì những thuốc nhóm thiazid sẽ không còn công dụng. Thuốc lợi niệu dùng phổ cập đặc biệt là thuốc tác dụng ở quai Henle, và thông thường là nên liều cao lúc suy thận tiến triển. Việc sử dụng digoxin cần rất thận trọng vì thuốc này chủ yếu đc vứt bỏ qua thận. Thuốc tức chế men chuyển cũng hiệu quả chống suy tim ở những người có bệnh suy thận nhưng lúc creatinin máu lên cao quá 30 mg/L thì không nên sử dụng các thuốc này nữa, vì chúng có khả năng làm tăng kali máu & làm giảm thêm công dụng thận. Nhưng nếu những người mắc bệnh đã được lọc máu ngoài thận thì nguy cơ tăng kali máu sẽ giảm bớt và lại có khả năng dùng được những thuốc ức chế men chuyển, nhưng cần kiểm định nồng độ kali và creatinin máu 2 – 3 ngày một lần.

những cấp độ của bệnh thận mạn

Mức lọc cầu thận – chỉ số định hình công dụng lọc chất cặn buồn chán của thận được sử dụng để phân loại các giai đoạn của loại bệnh thận mạn. Hiệp hội cộng đồng Thận quốc gia Hoa Kỳ định nghĩa suy thận mạn xẩy ra khi hoặc có tổn thương thận định vị bởi hàm lượng khắc ghi trong nước tiểu hoặc quan sát thấy máu, có khả năng có hoặc không có sự thay đổi mức lọc cầu thận; hoặc có mức lọc cầu thận giảm dưới 60 ml/phút/1,73 m2 trong ít nhất ba tháng. Bảng 1 diễn tả tiêu chuẩn phân loại những mức độ của bệnh thận mạn theo hướng dẫn của tổ chức Kidney Disease Outcomes quality Initiative (K/DOQI).

những phương pháp nào dùng để khám chữa bệnh thận mạn?

Các thuốc không chỉ có công dụng giảm huyết áp mà còn hỗ trợ giảm protein niệu đc đề xuất là thuốc chữa bệnh đầu tay cho phần lớn những người mắc bệnh mắc bệnh thận mạn và huyết áp tăng cao. Các dữ liệu cho thấy thêm hiệu quả lâu dài rõ rệt của những thuốc này trong công việc giảm hậu quả bên trên thận và tim mạch lúc giảm phần trăm protein niệu. Các thuốc tác động lên hệ renin-angiotensin-
aldosterol (RAAS), như thuốc tức chế men chuyển hoặc thuốc tức chế thụ thể AT1 của angiotensin là những thuốc đầu tay khám chữa huyết áp tăng cho những đối tượng người dùng những người mắc bệnh này. Bảng 2 đưa ra hướng dẫn về sự dùng những thuốc chữa bệnh huyết áp tăng cho bệnh nhân bị bệnh thận mạn kèm hoặc không kèm đái tháo đường, có hoặc không có protein niệu.
Thuốc ức chế men chuyển hoặc thuốc ức chế thụ thể AT1

Kết quả từ các nghiên cứu cho thấy thêm các thuốc điều trị huyết áp tăng cao tác động trên hệ renin-angiotensin có hiệu quả của nhà ngừa suy giảm công dụng thận tốt hơn đối với các nhóm thuốc khác, cả trong tình huống mức huyết áp phương châm đạt đc là hệt nhau. Hiệu suất cao này được ghi nhận rõ rệt ở những những người mắc bệnh có protein niệu, nhưng ít thấy rõ trên những người mắc bệnh không tồn tại protein niệu. Dựa theo các kết quả bên trên, các hướng dẫn chữa bệnh khuyến cáo các thuốc ức chế men chuyển hoặc những thuốc ức chế thụ thể AT1 là chọn lựa đầu tay cho những những người mắc bệnh mắc bệnh thận kèm hoặc ko kèm đái tháo đường, huyết áp tăng cao và có protein niệu. Các dữ liệu cũng chỉ ra những thuốc ức chế men chuyển & các thuốc ức chế thụ thể AT1 công hiệu giống hệt trong các công việc làm giảm huyết áp & làm giảm protein niệu. Một nghiên cứu và phân tích gộp cách đây không lâu cho biết các thuốc ức chế men chuyển có thể công dụng trội hơn so với các thuốc ức chế thụ thể AT1 trong điều trị huyết áp tăng cao do làm giảm 10 % xác suất tử vong do mọi nguyên do. Những kết quả này mới chỉ được xác định ở những bệnh nhân huyết áp tăng và ko áp dụng cho các những người có bệnh có bệnh bị mắc kèm như bệnh thận mạn. Vì vậy, việc ưu tiên lựa chọn thuốc này hơn thuốc kia phụ thuộc vào từng những người có bệnh rõ ràng, phải Để ý đến thêm yếu tố Ngân sách và thời gian làm việc xảy ra các phản ứng ăn hại. Đừng nên sử dụng đồng thời cùng lúc 1 thuốc tức chế men chuyển & một thuốc tức chế thụ thể AT1 vì có vật chứng cho thấy sự kết hợp này làm giảm chức năng thận. Phối hợp thuốc tức chế men chuyển & thuốc ức chế thụ thể AT1 ko làm giảm Tỷ Lệ mắc và xác suất tử vong do bệnh tim mạch lúc so sánh với sử dụng thuốc tức chế men chuyển cô đơn.

nhìn toàn diện, các thuốc tức chế men chuyển và thuốc ức chế thụ thể AT1 dung nạp tốt. Các thuốc tức chế men chuyển có khả năng gây ho khan sự khó chịu, trong tương đối nhiều trường hợp cần được thay đổi chữa bệnh. Các thuốc tức chế thụ thể AT1 không khiến ho khan. Trường hợp phù mạch tuy hiếm khi bắt gặp nhưng phải thông báo với những người có bệnh mở màn chữa bệnh với thuốc ức chế men chuyển hoặc tức chế thụ thể AT1 về một số triệu chứng và biến chứng gặp cùng phù mạch. Cũng nên lưu ý những người có bệnh trong tình huống không chắc chắn phù mạch, lúc thấy sưng trên mặt (thường sưng mí mắt) hoặc các chi, vẫn nên dừng thuốc và ngay lập tức hỏi chủ kiến cán bộ y học.

Bệnh thận mạn tính có nguy hiểm không ?

Mỗi người thông thường có 2 quả thận, có hình giống hạt đậu với những chỉ số như: dài 12 cm, rộng 6 cm, nặng khoảng 150g. Thận là bộ phận tiết niệu rất đặc trưng giúp lọc máu, điều độ nội môi, điều hòa áp suất thẩm thấu và các chuyển hóa trong cơ thể, là cửa ngõ đào thảo chất độc trong cơ thể. Nếu thiếu 1 quả thận, quả sót lại vẫn đảm bảo tiến hành được chức năng của mình, nhưng nếu cả hai cùng có vấn đề được xem là những ảnh hưởng rất chi là lớn, thậm chí là mối đe dọa đến sự sống.

Xem thêm:http://chuabenhthan.info/suy-tuyen-thuong-than-thu-phat-nguy-hiem-tiem-tang-den-tinh-mang/

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

*